|
(otobienhoa.vn) - Nếu chỉ thoáng qua, khó có thể
phân biệt được một chiếc Toyota Matrix bản 2010 và bản 2011, thế nhưng
cũng đừng vội đánh giá những thay đổi mờ nhạt về thiết kế của mẫu xe 5
cửa thể thao này của Toyota, mà giá trị lớn nhất của Matrix mới là bản
chất bên trong.
Chọn Triển lãm Chicago Auto Show 2010 là điểm
xuất phát cho chặng đường chinh phục phân khúc xe thể thao tầm trung
trong năm nay, Matrix 2011 luôn cố gắng trên mọi phương diện để toát
lên linh hồn của mẫu xe thể thao thú vị khoác bộ cánh xe đa dụng SUV cỡ
nhỏ và đặc biệt là tính hiệu quả kinh tế cao.
Toyota Matrix 2011
Toyota Matrix 2011 chứng kiện sự đổi mới trên la-zăng, nội thất và đặc
biệt các trang bị công nghệ tiện nghi, an toàn, điển hình là công nghệ
Smart Stop Technology.
Vận hành sóng đôi với tiết kiệm
Đối với phiên bản 2011, Toyota Matrix được chia thành hai bản, Matrix
Base và Matrix S thể thao. Những tùy chọn động cơ gồm 1.8L và 2.4L 4
xy-lanh, kết hợp hộp số sàn 5 cấp hoặc 4/5 cấp tự động. Hệ dẫn động 4
bánh AWD kiểm soát mô-men chủ động cũng có trên Matrix S, bản động cơ
dung tích 2.4L.
Động cơ 1.8L DOHC 4 xy-lanh có thể sản sinh sức mạnh 132 mã lực tại dải
tua 6.000 vòng/phút, mô-men xoắn 173Nm tại 4.400 vòng/phút.
Hệ thống kiểm soát thời gian đóng mở van biến than kép VVT-i
có nhiệm vụ điều khiển cả xu-páp nạp và xả, tăng cường khả năng vận
hành và tiêu thụ nhiên liệu hiệu quả. Động cơ dung tích 1,8 lít sánh
vai hộp số sàn 5 cấp hoặc số tự động điều khiển điện tử 4 cấp ECT.
Trong khi đó, Toyota Matrix sử dụng bản động cơ 2.4L 4xylanh, công suất
158 mã lực tại 6.000 vòng/phút và mô-men 219Nm xoắn tại 4.000
vòng/phút. Hệ thống xả cải tiến với mục đích giảm áp suất phản kháng,
tăng tính năng vận hành.
Sức mạnh của động cơ 2.4L có thể truyền qua hộp số 5 cấp sàn hoặc 4 cấp
tự động. Ngoài ra, Toyota Matrix S còn có phiên bản dẫn động 4 bánh,
ứng dụng động cơ 2,4 lít và hộp số tự động 4 cấp.
Theo hãng Toyota, Matrix bản Base 1.8L tiêu tốn lượng nhiên liệu trung
bình khoảng 9,4 lít/100 km đường phố và 7,3 lít/100 km đường trường với
hộp số sàn. Hai con số tương ứng ở bản số tự động đạt mức 9 lít/100 km
và 7,3 lít/100 km xa lộ.
Bù lại trải nghiệm lái thể thao, bản S chấp nhận “ngốn” nhiên liệu
nhiều hơn, động cơ 2.4L sử dụng 11,2 lít cho mỗi 100 km nội đô, 8,4
lít/100 km đường cao tốc với số sàn và 11,2 lít, 8,1 lít/100 km lần
lượt với số tự động. Riêng bản dẫn động 4 bánh cần 11,7 lít và 9 lít để
hoàn thành 100 km đường thành phố và cao tốc.
Bí quyết để Matrix mới luôn vận hành ổn định là nhờ một cấu trúc thân xe cứng chắc, trọng lượng nhẹ, từ đó sáng tạo nên một
chiếc Matrix 2011 hoàn thiện, đặt niềm tin vào vật liệu thép
siêu cứng, kết hợp với hệ thống treo gồm các thanh giằng độc lập
MacPherson cỡ nhỏ và một thanh cân bằng, trong khi hệ thống treo sau là
loại tay đòn kép.
Hệ thống phanh đĩa 4 bánh tiêu chuẩn dành cho mọi phiên bản Matrix
2011, kích thước 10,7inch, 10,1inch lần lượt cho bánh trước và sau đối
với bản Base và bản S sở hữu đĩa phanh tương ứng 11,6inch và 10,9icnh.
Bộ la-zăng 16inch tiêu chuẩn tái thiết kế 6 chấu thể thao trên Matrix
2011 đi cùng bộ lốp P205/55R16, hoặc tùy chọn la-zăng 17inch 5 chấu với
lốp 215/45R17.
Hình thức thay đổi mờ nhạt
Nếu liệt kê những chi tiết mà Toyota “đụng tay” tới trên Matrix 2011
thì không phải là ít, nhưng chỉ ở mức độ thoáng qua, chưa thể tạo nên
cuộc lột xác hoàn hảo.
Matrix thế hệ thứ 2 tô điểm thêm cho diện mạo bằng những
đường nét thiết kế lấy cảm hứng từ mẫu coupe thể thao, trong khi phát
huy lợi thế nội thất phóng khoáng của người tiền nhiệm.
Cửa sổ hậu bo tròn và đường gân nổi chạy từ lưới tản nhiệt tới cột A là
những thay đổi rõ nét đáng ghi nhận của Matrix. Bên cạnh đó, cản sau,
cánh gió và đèn sương mù tái thiết kế.
Spruce Mica bổ sung thêm vào danh sách tùy chọn màu sơn
ngoại thất cho Matrix gồm Bạc Classic, Xám Magnetic, Đen Mica, Đỏ
Radiant và Xanh Nautical.
Nội thất của Toyota Matrix 2011 được tập trung vào bảng điều khiển
trung tâm với tiêu chí thuận tiện, và dễ dàng quan sát và đưa ra các
biện pháp xử lý cho người lái xe, thêm một số chi tiết trang trí màu
bạc, cửa gió dạng tròn viền bo crôm. Công-tơ-mét có thiết kế lớn được
đặt ở trung tâm, kết hợp với đồng hồ đo nhiệt độ, một màn hình LCD dễ
dàng quan sát hơn.
Các trang bị cho ghế ngồi trên xe được bọc bằng vải với tùy chọn hai
màu là than đen hoặc màu xám cùng với vô-lăng 3 chấu mới, nhấn mạnh
tinh thần thể thao.
Riêng phiên bản S được trang bị thêm vô lăng bọc da, tích
hợp nút điều chỉnh âm thanh, cùng tính năng đàm thoại rảnh tay trên xe
thông qua kết nối Bluetooth.
Phương diện an toàn của Toyota Matrix 2011 được củng cố chủ yếu nhờ hệ
thống Star Safety System, 6 túi khí tiêu chuẩn, bộ phận tựa đầu linh
hoạt, hệ thống ổn định thân xe VSC tự động điều chỉnh công suất mạnh và
lực phanh cho từng bánh riêng biệt.
Thêm hình ảnh Toyota Matrix 2011:
Theo : Tạp chí xe hơi |